| thaloga |
31-05-2012 04:32 PM |
phần 2
Nghĩa ngữ
Non bộ là thuật ngữ cổ thuộc gốc Nam Á. Từ Bộ có nghĩa là dáng vẻ, bắt chước, phỏng theo, nhái theo, kiểu cách, mô phỏng, ra vẻ... Ví dụ: giả bộ, làm bộ, điệu bộ, bộ dạng... Từ Non có nghĩa là núi. Cùng một nghĩa chỉ núi với các từ trong ngữ hệ Malayo-Polynesiene và Mon-Khmer thuộc văn minh Nam Á, chúng ta thấy từ Ph-num của người Miên, từ Phơnơm của người Mạ, từ Bơnơn của người Bà-na dọc Trường sơn, từ B-non của người Ê-đê nam Tây nguyên, từ Gu-nong hay phunông của người Mã-lai, từ Phu của người Thái, từ B-nam của cổ Phù-nam (2), v.v.... Khi xưa tiếng Hán đang còn đóng khung ở vùng phía bắc sông Hoàng-hà, sông Vị-hà thì nó chưa thể có nhiều những từ nêu lên tên gọi của những sản vật mà chỉ phương nam mới có, do đó có sự vay mượn, ảnh hưởng qua lại. Những danh từ chỉ thực vật như cảm lãm (trám), phù lưu (trầu) ba la mật (mít) v.v.... chắc chắn là những danh từ vay mượn các ngôn ngữ vùng nhiệt đới. Để chỉ sông, phía Bắc, người Hán gọi là Hà, nhưng từ sông Dương Tử trở về Nam lại gọi là Giang. Theo các nhà Địa danh học giang là một từ vay mượn, thanh phù công () đứng cạnh bộ chấm thuỷ ()trong chữ giang () rất dễ dàng gợi cho chúng ta nghĩ đến Kion (Miến), Kon (Katu), Karan (Mơ Nông), Krong (Chăm), Không (Mường), Hông (Khả), Krông (Bà Na), Khung (Thái), Sôngai (Mã Lai), cũng như nghĩ đến Sông trong tiếng Việt (3), (Việt Miên Lào có chung con sông là Mê-kông). Có khi chiều ảnh hưởng chỉ đi theo một đường thẳng đơn giản, từ bên này sang bên kia, nhưng cũng nhiều khi mũi tên có thể đi đường vòng từ A sang B, rồi lại từ B quay trở về A. Ví dụ ở tiếng Nam Á có danh từ chỉ một thứ võ khí ta gọi là Ná (So sánh với Na của Mường, của Chức, nả của La-ha [Mường-la], Hna của Bà Na, của Ê-dê, Mnaá của Sơ Đăng, Sa-Na của Kơ-ho, S-Na của Miên, Snao của Raglai, Na của Mạ, Hnaá của Gia Rai, Sơ-Na của Srê, Sna của Chăm Phan Rang, Phan Rí, Nả của Thái hay Pnả của Mã Lai), có nhiều cơ sở để có thể khẳng định chính từ tên gọi này được nhập vào vốn từ vựng của người Trung Quốc, sản sinh ra tiếng Hán có cách đọc Hán Việt cổ là Nõ hay Hán Việt hiện nay là Nỗ ([ ] tổng hợp của thanh phù Nô [như nô bộc] đứng trên chữ Cung tượng hình [ ]) rồi lại quay trở về Việt Nam được đọc theo Nôm là Nỏ. Nỏ là một phát minh của người phương Nam. Từ Non bộ hay Bơnơn Bouy là mô phỏng núi, dáng vẻ núi non, nhái theo núi non, hoặc còn gọi là núi giả, sau này được các nho sĩ, sử gia chuyển ngữ sang chữ Hán mà cách đọc Hán Việt là giả sơn. Nhưng thuật ngữ giả sơn lại không được thông dụng ở Trung quốc, kể cả Hoa Nam và Hoa Bắc. Người Trung quốc quen dùng thuật ngữ Bồn tài (p-en tsai - cây trong chậu) Bồn cảnh (p-en ching - cảnh trong chậu), mãi đến cuối thời Nguyên (1271-1368), thời Minh (1369-1643) mới xuất hiện danh từ chữ Hán hoàn chỉnh có cách đọc Hán Việt là Sơn Thủy Bồn Cảnh (shan shui p-en ching - cảnh sơn thuỷ trong chậu) (4), để chỉ lối chơi giống hệt như lối chơi non bộ ở Việt Nam. Người Thái Lan có lối chơi Mai khèn (cây lùn) hay Mai dăt (cây uốn), người Nhật có lối chơi bonsai (bồn tài - cây trong khay, trong chậu), Bonseki (bồn thạch - đá trong khay, trong chậu). Theo tác giả Nguyễn Vọng thì: Người Nhật có nghệ thuật đặt đá trên khay để trưng, không có cây cỏ. Giả thử đá ấy có hình dáng một trái núi thu nhỏ ta cũng không nên coi đó là một non bộ (5).
p.quỳnh
|