Tại Việt nam, xe máy là phương tiện đi lại chính và là món tài sản lớn đối với các gia đình thu nhập trung bình. Việc giúp cho các ông bố bà mẹ luôn an tâm khi chiếc xe của mình được trông nom đầy đủ, vận hành trót lọt và không lo lắng về mức giá cả sẽ làm họ có thêm sự hứng khởi để làm việc tốt để nuôi dạy con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình.
Chúng tôi đeo đuổi sứ mệnh tìm tòi và phát triển các sản phẩm
dau nhot Việt nam có chất lượng tương đương các nhãn hiệu quốc tế, với mức giá dành cho những gia đình có nguồn thu nhập vừa phải.
Xe máy là dụng cụ đi lại quan yếu và cốt tử tại Việt Nam. Kể từ khi Honda bước chân vào thị trường Việt Nam hơn 10 năm trước đây, công ty đã liên tiếp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của thị trường mà xe máy là dụng cụ chiếm gần 90% tại các thành phố lớn.
Tháng 3 năm 1998, Honda Việt Nam khánh thành nhà máy thứ nhất. Được đánh giá là một trong những nhà máy chế tạo xe máy hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á, nhà máy của Honda Việt Nam là minh chứng cho ý định đầu tư nghiêm túc và lâu dài của Honda taị thị trường Việt Nam.
· - Thành lập: Năm 1998.
· - hội sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc.
· - Vốn đầu tư: USD 290,427,084.
· - cần lao: 3.560 người.
· - Công suất: 1 triệu xe/năm.
Công ty Honda Việt Nam (HVN) là công ty liên doanh gồm 03 đối tác:
· - Công ty Honda Motor (Nhật Bản – 42%)
· - Công ty Asian Honda Motor (Thái Lan – 28%)
· - Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông Nghiệp Việt Nam – 30%)
Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng Việt Nam, Honda Việt Nam quyết định đầu tư mở mang sinh sản, nâng cao sản lượng tại thị trường Việt Nam. Tháng 8 năm 2008, nhà máy xe máy thứ hai chuyên sản xuất xe tay ga và xe số cao cấp với công suất 500,000 xe/năm đã được khánh thành tại Viêt Nam. Điều đặc biệt của nhà máy xe máy thứ 2 chính là yếu tố “
thân thiện với môi trường và con người”. Theo đó, nhà máy này được xây dựng dựa trên sự kết hợp hài hòa và hợp lý nhất các nguồn năng lượng thiên nhiên là: Gió, Ánh sáng và Nước.
· - Năm thành lập: Năm 2008
· - Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
· - Vốn đầu tư: 65 triệu USD
· - Lao động: 1.375 người
· - Công suất: 500.000 xe/năm
Tính đến thời điểm hiện tại, tổng công suất sinh sản của cả 2 nhà máy xe máy là 1,5 triệu xe/năm, đưa Honda Việt Nam trở nên một trong những nhà máy sinh sản xe máy lớn nhất tại khu vực và trên toàn thế giới.
Tháng 3 năm 2005, Honda Việt Nam chính thức nhận được giấy phép của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho phép sinh sản lắp ráp ô tô tại Việt Nam.
Đây là một mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự phát triển của Công ty. Chỉ sau 1 năm và 5 tháng, Honda Việt Nam đã xây dựng thành công nhà máy, xây dựng màng lưới đại lý, các chương trình đào tạo bán hàng, dịch vụ, tài xế an toàn cho viên chức các đại lý và ra mắt mẫu xe trước hết vào tháng 8 năm 2006.
Từ thời khắc đó, Honda Việt Nam không chỉ được biết đến là nhà sản xuất xe máy với các sản phẩm danh tiếng mà còn là nhà sinh sản ô tô uy tín tại thị trường Việt Nam.
dau nhot là loại dầu dùng để bôi trơn cho các động cơ. Dầu nhờn là hỗn tạp bao gồm dầu gốc và phụ gia, hay người ta thường gọi là dầu nhờn thương phẩm. Phụ gia thêm vào với mục đích là giúp cho dầu nhờn thương phẩm có được những tính chất phù hợp với chỉ tiêu đề ra mà dầu gốc không có được.
Cách đây 100 năm, thậm chí con người vẫn chưa có khái niệm về dầu nhờn. tuốt tuột các loại máy móc lúc bấy giờ đều được bôi trơn bằng dầu mỡ lợn và sau đó dùng dầu ôliu. Khi dầu ôliu khan hiếm thì người ta chuyển sang sử dụng các loại dầu thảo mộc khác. Ví dụ, để bôi trơn cọc sợi máy dệt người ta dùng đến dầu cọ.
Khi ngành chế biến
dầu mỏ ra đời, sản phẩm chính yếu tại các nhà máy chế biến dầu mỏ là
dầu hỏa, phần còn lại là
mazut ( chiếm 70 – 90 %) không được dùng và coi như bỏ đi. Nhưng khi ngành công nghiệp dầu mỏ phát triển thì lượng cặn mazut ngày càng lớn, buộc con người phải nghiên cứu để sử dụng nó vào mục đích có lợi. Lúc đầu người ta lấy cặn dầu mỏ pha thêm vào
dầu thực vật hoặc
mỡ lợn với tỉ lệ thấp để tạo ra
dầu bôi trơn, nhưng chỉ ít lâu sau người ta đã biết dùng cặn dầu lửa để chế tác ra dầu nhờn.
Năm 1870 ở Creem (Nga), tại nhà máy Xakhanxkiđơ bắt đầu chế tác được dầu nhờn từ dầu mỏ, nhưng chất lượng thấp. Nhà bác học người Nga nổi tiếng
D.I.Mendeleev chính là một trong những người chú ý trước hết đến vấn đề dùng mazut để chế tác ra dầu nhờn. Năm 1870 – 1871, Ragorzin đã xây dựng một xưởng thể nghiệm dầu nhờn nhỏ, và đến năm 1876 – 1877, Ragorzin xây dựng ở Balakhan nhà máy chế biến dầu nhờn trước nhất trên thế giới có công suất 100.000 put/năm. Nhà máy này đã sinh sản được bốn loại dầu nhờn: dầu cọc sợi, dầu máy, dầu trục cho toa xe mùa hè và mùa đông. Các mẫu dầu nhờn của Ragorzin đã được mang đến triển lãm quốc tế Pari năm 1878 và đã gây được nhiều hấp dẫn đối với chuyên gia các nước. Phát huy kết quả đó, năm 1879, Ragorzin cho xây dựng ở Conxtantinôp nhà máy thứ hai chuyên sản xuất dầu nhờn để xuất khẩu. Chính Mendeleep cũng đã làm việc ở các phòng thử nghiệm và những phân xưởng của nhà máy này vào những năm 1880 – 1881. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, nhiều cơ sở khoa học của ngành sản xuất dầu nhờn đã được xây dựng và chỉ trong vòng mấy năm sau đó, ngành chế tác dầu nhờn đã đích thực phát triển và đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử chế tác chất bôi trơn.
Các tác phẩm nghiên cứu của nhà bác học Nga nổi danh
N.P.Petrop đã tạo điều kiện để dầu nhờn được sử dụng rộng rãi hơn. Trong các tác phẩm của mình, ông đã nêu lên khả năng có thể dùng hoàn toàn
dầu nhớt thay thế cho dầu thực vật và mỡ động vật, đồng thời nêu lên những nguyên lý bôi trơn… Cùng với những tiến bộ khoa học không ngừng, con người đã xây dựng được những tháp chưng cất chân không đương đại thay thế cho những nhà máy chưng cất cũ kỹ, đây là bước phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dầu lửa.
Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học và công nghệ, nền công nghiệp đương đại đã và đang xâm nhập vào mọi hang cùng, ngõ hẻm trên thế giới và khuynh hướng quốc tế hóa nên đời sống kinh tế cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ. quờ những đặc điểm nêu trên của thời đại đã đặt ra một nhiệm vụ vô cùng to lớn cho các nhà nước là phải xây dựng được một nền
công nghiệp dầu lửa đương đại, đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu càng ngày càng tăng của nền kinh tế thế giới.
Các tập đoàn tư bản lớn can hệ đến dầu nhờn như:
Shell,
Exxon-Mobil,
BP,
Chervon,
Total, … đã có mặt trên hầu hết các nước trên thế giới. Họ cũng đã và đang ứng dụng rộng rãi những thành quả mới nhất của khoa học, đưa nền công nghiệp dầu lửa hằng năm tăng trưởng không ngừng và sản xuất
dau nhot chinh hang cũng không ngừng được nâng cao về mặt chất lượng cũng như số lượng, sáng tạo thêm nhiều chủng loại dầu nhờn mới.